Trong thực tế, cụm từ “mua bán đất” được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hằng ngày. Tuy nhiên, xét dưới góc độ pháp lý, cách gọi này chưa chính xác. Vậy vì sao pháp luật không dùng thuật ngữ “mua bán đất”? Để giải đáp thắc mắc này, hãy cùng Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ tìm hiểu thông tin qua bài viết dưới đây nhé.
>>> Có thể bạn quan tâm: Thủ tục công chứng mua bán nhà đất cần những giấy tờ gì?
1. Vì sao không gọi là mua bán đất?
1.1. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện quản lý
Theo quy định của pháp luật, đất đai không thuộc sở hữu riêng của bất kỳ cá nhân nào mà thuộc sở hữu toàn dân. Căn cứ Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 (số 91/2015/QH13), quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản.
Tuy nhiên, đối với đất đai, người dân chỉ có quyền sử dụng chứ không có đầy đủ quyền định đoạt như các loại tài sản khác. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và có quyền giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất theo quy hoạch.
Nguyên tắc này cũng được khẳng định tại Điều 53 Hiến pháp 2013: đất đai và tài nguyên là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.

Trên thực tế, các Luật Đất đai qua các thời kỳ như năm 1987, 1993, 2003 và 2013 đều kế thừa và cụ thể hóa nguyên tắc này. Cụ thể, Điều 1 Luật Đất đai 2003 và Điều 4 Luật Đất đai 2013 đều khẳng định Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và trao quyền sử dụng đất cho người dân.
Như vậy, dù trực tiếp khai thác và sử dụng đất, người dân vẫn không phải là chủ sở hữu nên không có quyền “bán đất” theo đúng nghĩa pháp lý.
1.2. Người dân chỉ có quyền sử dụng đất, không phải quyền sở hữu đất
Theo Nghị quyết 18-NQ/TW năm 2022, quyền sử dụng đất được xác định là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, được pháp luật bảo vệ nhưng không phải là quyền sở hữu.
>>> Xem thêm: Có thể tra cứu lịch làm việc của văn phòng công chứng gần nhất tại Hà Nội tại đâu?
Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; trong đó đất đai được xếp vào nhóm bất động sản (Điều 107).
Mặt khác, theo Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận chuyển quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua. Trong khi đó, với đất đai, người dân không có quyền sở hữu nên không thể chuyển quyền sở hữu.
Chính vì vậy, giao dịch liên quan đến đất không phải là “mua bán” mà thực chất là chuyển giao quyền sử dụng. Do đó, thuật ngữ đúng theo pháp luật phải là “chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
2. Thuật ngữ pháp lý thay thế cho “mua bán đất” là gì?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, cách gọi đúng trong các giao dịch liên quan đến đất là “chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Đây cũng là lý do vì sao “Sổ đỏ” có tên gọi chính thức là “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” chứ không phải giấy chứng nhận quyền sở hữu đất.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng pháp luật chỉ hạn chế quyền định đoạt đối với đất đai. Đối với tài sản gắn liền với đất như nhà ở, công trình xây dựng, người dân có quyền sở hữu và có thể thực hiện mua bán theo quy định.
3. Kết luận
Đất đai là loại tài sản đặc biệt nên người dân không thể thực hiện giao dịch mua bán theo nghĩa thông thường mà chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bởi các lý do sau:
- Đất thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện quản lý;
- Cá nhân không có quyền sở hữu nên không có quyền định đoạt như bán đất;
- Khi thực hiện giao dịch, người dân chỉ có thể ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
- Riêng đối với nhà ở và công trình gắn liền với đất, người dân vẫn có quyền mua bán vì đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Có thể thấy, việc sử dụng thuật ngữ “mua bán đất” trong đời sống chỉ mang tính quen thuộc, còn về mặt pháp lý, cách gọi đúng phải là “chuyển nhượng quyền sử dụng đất” để đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành.
>>> Xem thêm: Tổng hợp các loại thuế phí cần phải nộp khi làm dịch vụ sổ đỏ nhanh cho căn hộ chung cư mới mua năm 2026.
Trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Vì sao không dùng thuật ngữ “mua bán đất”?”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ theo thông tin:
VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ
Miễn phí dịch vụ công chứng tại nhà
VPCC Nguyễn Huệ được thành lập từ ngày 03/10/2012, có địa chỉ trụ sở tại số 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội dưới sự điều hành của các Công chứng viên có trình độ và bề dày thành tích trong ngành pháp luật cũng như trong lĩnh vực công chứng:
- Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân Luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.
- Công chứng viên Chu Cảnh Hưng: Đã từng làm 10 năm Viện phó viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trưởng văn phòng công chứng Chu Cảnh Hưng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Kim Thanh: Là Luật sư, nguyên Trưởng Văn phòng công chứng tại Bắc Ninh với nhiều năm kinh nghiệm quản lý và điều hành nghiệp vụ. Chuyên gia dày dạn trong việc thẩm định hồ sơ pháp lý, giải quyết những hồ sơ khó và phức tạp một cách chuẩn xác nhất.
- Xem thêm…
- Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội
- Hotline: 0966.22.7979
- Email: ccnguyenhue165@gmail.com
XEM THÊM CÁC TỪ KHÓA TÌM KIẾM:
>>> Văn phòng công chứng cung cấp dịch vụ công chứng nhanh, uy tín tại Hà Nội.
>>> Thủ tục công chứng giấy ủy quyền bao gồm những gì? Thời hạn xét duyệt trong vòng bao lâu?
>>> Các vướng mắc khi làm thủ tục cấp sổ đỏ lần đầu mà người dân cần chú ý.
>>> Top 9+ Văn phòng công chứng quận Đống Đa: Cập nhật mới nhất
>>> Người Việt Nam có được mua lại nhà của người nước ngoài không?
