Việc cha mẹ chia đất cho con khi lập gia đình hoặc ra ở riêng là chuyện diễn ra khá phổ biến trong nhiều gia đình Việt Nam. Không ít người cho rằng đây là điều đương nhiên bởi con cái cũng là người trong gia đình. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải trường hợp nào con ra ở riêng cũng mặc nhiên có quyền yêu cầu cha mẹ chia đất. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ tìm hiểu thông tin qua bài viết dưới đây.
Căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai, khi ra ở riêng, người con có thể yêu cầu chia đất trong một số trường hợp nhất định sau đây:
>>> Xem thêm: Văn phòng công chứng có làm việc thứ 7, chủ nhật không? Thời gian làm việc và những lưu ý cần biết
Trường hợp 1: Con là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất
Đây là trường hợp khá phổ biến trên thực tế. Khi người con là thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình thì hoàn toàn có thể yêu cầu tách thửa đối với phần quyền sử dụng đất của mình, kể cả trong trường hợp cha mẹ hoặc các thành viên khác trong gia đình không đồng ý. Tuy nhiên, việc xác định ai là thành viên hộ gia đình sử dụng đất trên thực tế lại không hề đơn giản.
Khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định về hộ gia đình sử dụng đất như sau:
“25. Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành…”

Theo quy định này, đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho hộ gia đình trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, trên Sổ đỏ thường ghi theo hình thức “Hộ ông…” hoặc “Hộ bà…”. Để được xác định là thành viên hộ gia đình sử dụng đất, thông thường cần đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Điều kiện thứ nhất: Có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng hợp pháp như cha mẹ nuôi, con nuôi…
Điều kiện thứ hai: Đang cùng sinh sống tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Điều kiện thứ ba: Có chung quyền sử dụng đất. Trên thực tế, việc có chung quyền sử dụng đất có thể được xác lập dưới nhiều hình thức khác nhau như cùng góp tiền mua đất, cùng tạo lập tài sản, cùng khai hoang hoặc được tặng cho, nhận thừa kế chung.
Có thể thấy, kể từ ngày 01/7/2014 – thời điểm Luật Đất đai 2013 có hiệu lực – pháp luật đã quy định tương đối rõ về khái niệm hộ gia đình sử dụng đất cũng như điều kiện để cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình.
Tuy nhiên, trước ngày 01/7/2014, pháp luật đất đai chưa có quy định cụ thể về khái niệm “hộ gia đình sử dụng đất”, mặc dù trên thực tế nhiều địa phương vẫn cấp Giấy chứng nhận theo hình thức “Hộ ông”, “Hộ bà”.
>>> Xem thêm: Công chứng văn bản thừa kế bất động sản có phải thủ tục bắt buộc không?
Điều này dẫn đến thực tế có không ít trường hợp Sổ đỏ hộ gia đình được cấp dù chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện về thành viên có chung quyền sử dụng đất. Vì vậy, trong nhiều tranh chấp hiện nay, việc xác định một người có phải thành viên có quyền sử dụng đất chung hay không còn phụ thuộc vào thông tin thể hiện trên Giấy chứng nhận đã cấp và các chứng cứ liên quan.
Từ ngày 01/8/2024, Luật Đất đai 2024 chính thức có hiệu lực. Theo khoản 2 Điều 27 Luật Đất đai 2024, nhóm người sử dụng đất có chung quyền sử dụng đất được quy định như sau:
“2. Nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất thì có các quyền và nghĩa vụ như sau:
a) Nhóm người sử dụng đất bao gồm thành viên hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như cá nhân theo quy định của Luật này.
b) Trường hợp quyền sử dụng đất có thể phân chia theo phần cho từng thành viên thì mỗi người có thể thực hiện quyền đối với phần đất của mình bằng cách đăng ký biến động, tách thửa, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận và thực hiện các quyền theo quy định pháp luật.

Trường hợp quyền sử dụng đất không thể phân chia được theo phần thì các thành viên sẽ cùng thực hiện quyền hoặc ủy quyền cho người đại diện thực hiện.”
Từ các quy định trên có thể thấy, để xác định một người có phải là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất hay không cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và thời điểm hình thành quyền sử dụng đất.
Từ đó có thể hiểu rằng:
– Đất hộ gia đình là quyền sử dụng đất chung của những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, cùng sinh sống và có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng hoặc nhận chuyển quyền trước ngày 01/8/2024.
– Trong một số trường hợp khó chứng minh việc có chung quyền sử dụng đất thì sẽ xem xét căn cứ vào Giấy chứng nhận được cấp theo hình thức hộ gia đình cùng với các điều kiện về quan hệ và cư trú nêu trên.
Nếu người con thuộc nhóm thành viên có chung quyền sử dụng đất thì có thể yêu cầu tách thửa hoặc phân chia phần quyền sử dụng đất của mình, kể cả khi cha mẹ hoặc các thành viên khác phản đối. Tuy nhiên, nếu xảy ra tranh chấp thì quá trình thực hiện thường sẽ phức tạp hơn.
Trường hợp 2: Con cùng cha mẹ góp tiền mua chung đất
Trường hợp này ít phổ biến hơn nhưng vẫn xảy ra trên thực tế. Khi người con cùng bỏ tiền với cha mẹ để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người con cũng có thể phát sinh quyền đối với thửa đất đó.
Điểm giống giữa trường hợp này với trường hợp đất hộ gia đình là đều có yếu tố đồng sở hữu hoặc cùng có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở chỗ Giấy chứng nhận trong trường hợp này thường không ghi theo hình thức “hộ gia đình”.
Bản chất của việc cùng góp tiền mua đất tương tự như nhiều cá nhân cùng góp vốn để mua chung một tài sản. Khi đó, quyền sử dụng đất sẽ được xác định theo tỷ lệ đóng góp hoặc thỏa thuận của các bên.
Do đó, nếu người con có căn cứ chứng minh mình đã góp tiền cùng cha mẹ để nhận chuyển nhượng đất thì có thể yêu cầu phân chia hoặc tách phần quyền sử dụng đất tương ứng với tỷ lệ đã đóng góp.
>>> Có thể bạn quan tâm: Trường hợp nào được miễn tất cả các loại thuế phí khi làm dịch vụ sang tên sổ đỏ nhanh cho căn hộ chung cư năm 2026.
Trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Ra ở riêng, con có quyền yêu cầu cha mẹ chia đất không?”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ theo thông tin:
VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ
Miễn phí dịch vụ công chứng tại nhà
VPCC Nguyễn Huệ được thành lập từ ngày 03/10/2012, có địa chỉ trụ sở tại số 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội dưới sự điều hành của các Công chứng viên có trình độ và bề dày thành tích trong ngành pháp luật cũng như trong lĩnh vực công chứng:
- Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân Luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.
- Công chứng viên Chu Cảnh Hưng: Đã từng làm 10 năm Viện phó viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trưởng văn phòng công chứng Chu Cảnh Hưng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Kim Thanh: Là Luật sư, nguyên Trưởng Văn phòng công chứng tại Bắc Ninh với nhiều năm kinh nghiệm quản lý và điều hành nghiệp vụ. Chuyên gia dày dạn trong việc thẩm định hồ sơ pháp lý, giải quyết những hồ sơ khó và phức tạp một cách chuẩn xác nhất.
- Xem thêm…
- Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội
- Hotline: 0966.22.7979
- Email: ccnguyenhue165@gmail.com
XEM THÊM CÁC TỪ KHÓA TÌM KIẾM:
>>> Công chứng ủy quyền mua bán nhà đất cần chuẩn bị những giấy tờ gì?
>>> Khi có đồng sở hữu, công chứng mua bán nhà đất cần những điều kiện gì?
>>> Địa chỉ dịch thuật đa ngôn ngữ hiếm uy tín nhất tại Hà Nội
>>> Công chứng di chúc đối với người bị cụt tay được thực hiện thế nào?
>>> Những loại đất nào có thời hạn sử dụng 50 năm?
